STENT LÀ GÌ

  -  

Can thiệp động mạch vành là một trong những thủ thuật giúp giải quyết dứt điểm tình trạng hẹp hoặc tắc động mạch vành mà không cần sử dụng đến phương pháp mổ mở lồng ngực.

Bạn đang xem: Stent là gì

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BS.CKII Huỳnh Ngọc Long, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM.

Năm 1958, lần đầu tiên bác sĩ Mason Sones và cộng sự ở Cleveland Clinic (Mỹ) đã tình cờ chụp được chọn lọc động mạch vành, từ đó mở ra một kỷ nguyên mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh mạch vành cùng nhiều bệnh tim mạch.

Bệnh mạch vành còn được gọi là thiếu máu cục bộ cơ tim được xếp vào nhóm bệnh lý có nguy cơ gây tử vong hàng đầu Việt Nam cũng như toàn thế giới. Đây là bệnh lý của sự mất cân bằng giữa cung – cầu oxy cơ tim do tưới máu không đủ, dẫn đến thiếu máu cơ tim hoặc hoại tử cơ tim.


*

Bệnh mạch vành nằm trong nhóm bệnh lý gây tử vong hàng đầu Việt Nam


Các phương pháp điều trị bệnh mạch vành gồm điều trị nội khoa, tái thông mạch vành bị hẹp bằng cách đặt stent hoặc phẫu thuật cầu nối chủ vành. Trong đó, can thiệp động mạch vành là thủ thuật xâm lấn tối thiểu nhất, đạt được nhiều tiến bộ ở cả kỹ thuật và hiệu quả điều trị.


Can thiệp động mạch vành là gì?

Can thiệp động mạch vành qua da còn được gọi là nong động mạch vành (PCI), là một thủ thuật được sử dụng để mở các động mạch vành bị hẹp nặng hoặc tắc nghẽn do xơ vữa mạch vành. Ưu điểm của thủ thuật này giúp phục hồi lưu lượng máu đến cơ tim mà không cần phẫu thuật tim hở.


*

Can thiệp động mạch vành qua da nhằm mở các mạch vành bị hẹp hoặc tắc nghẽn do xơ vữa


Khi nào cần can thiệp động mạch vành?

BS.CKII Huỳnh Ngọc Long cho biết, can thiệp động mạch vành qua da được chỉ định trong điều trị bệnh mạch vành, cụ thể là:

Đau thắt ngực ổn định không đáp ứng với phương pháp điều trị nội khoa. Đau thắt ngực ổn định có xảy ra tình trạng thiếu máu cơ tim (thông qua nghiệm pháp gắng sức dương tính hoặc xạ hình tưới máu cơ tim dương tính) và có tổn thương tại động mạch vành cấp máu ở một vùng cơ tim lớn. Đau ngực không ổn định/nhồi máu cơ tim cấp không có ST chênh lên trường hợp bị nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên. Đau thắt ngực xuất hiện sau khi bệnh nhân thực hiện phẫu thuật làm cầu nối chủ vành. Sau can thiệp động mạch vành qua da có xuất hiện triệu chứng tái hẹp.

Thủ thuật nong và đặt stent động mạch vành qua da chống chỉ định cho những trường hợp:

Tổn thương không thích hợp cho can thiệp như tổn thương nặng lan tỏa, tổn thương nhiều thân mạch vành, tổn thương đoạn xa,… Tổn thương mạch vành có nguy cơ cao dẫn đến tử vong nếu động mạch vành bị tắc lại trong quá trình can thiệp. Bệnh nhân có nguy cơ dễ chảy máu nặng do số lượng tiểu cầu thấp, rối loạn đông máu,… Bệnh nhân không tuân thủ đúng chỉ định điều trị trước và sau khi làm thủ thuật can thiệp. Tái hẹp mạch vành ở nhiều vị trí sau can thiệp.

Làm thế nào để nong và đặt stent?

Để nong động mạch vành, bác sĩ sẽ đưa một ống dài và mỏng (ống thông) vào mạch máu ở tay qua động mạch quay hoặc động mạch đùi ở bẹn và đưa đầu ống thông đến động mạch vành bị tắc.


*

Ống thông được đưa vào mạch máu ở tay qua động mạch quay


Người bệnh sẽ được gây tê tại vùng cổ tay hay bẹn, sau đó chọc kim vào để đưa ống thông. Thủ thuật này thường không gây đau, người bệnh vẫn tỉnh táo trong suốt quá trình thực hiện thủ thuật.

Thời gian thực hiện thủ thuật thường kéo dài trong khoảng 1 giờ đồng hồ. Phần lớn bệnh nhân có thể xuất viện sau 2 ngày, tính từ khi kết thúc thủ thuật.

BS.CKII Huỳnh Ngọc Long chia sẻ thêm, các chuyên gia trong lĩnh vực tim mạch can thiệp sẽ sử dụng phương pháp soi huỳnh quang trong quá trình phẫu thuật. Nội soi huỳnh quang là một loại tia X đặc biệt, giống như tia X trong chụp X-quang phổi. Phương pháp này giúp bác sĩ tìm ra những chỗ tắc nghẽn trong động mạch tim khi thuốc cản quang di chuyển qua động mạch, được gọi là chụp động mạch vành.

Các bác sĩ có thể dùng một sợi dây dẫn đặc biệt (guidewire) đưa vào ống thông đến mạch vành và qua chỗ hẹp hay tắc nghẽn mạch vành.

Xem thêm: Đội Hình Mạnh Nhất Của Real Trong 10 Năm Qua: Ronaldo Là Tượng Đài, Ramos Gồng Gánh Tất Cả

Nong mạch vành là gì?

Bác sĩ sẽ đưa một dụng cụ gọi là bóng nong mạch vành (balloon) vào đúng chỗ hẹp hay tắc nghẽn. Quả bóng sẽ được bơm căng tại khu vực hẹp của động mạch vành. Quá trình này làm ép các mảng xơ vữa hoặc cục máu đông vào thành động mạch, giúp máu lưu thông.

*

Bóng nong mạch vành (balloon) được đưa vào chỗ hẹp hoặc tắc nghẽn

Đặt stent mạch vành là gì?

Hiện nay, stent mạch vành được sử dụng trong hầu hết các thủ thuật nong mạch vành. Stent là một cuộn lưới kim loại nhỏ, có thể nong rộng ra tùy theo kích cỡ mạch máu, được đưa vào khu vực mới nong bằng bóng của động mạch để giữa cho động mạch không bị thu hẹp hoặc tắc lại.

Sau khi đặt stent, mô sẽ bắt đầu bao phủ stent như một lớp da. Stent sẽ được lót hoàn toàn bằng mô trong vòng 3 – 12 tháng, tùy thuộc vào việc stent có phủ thuốc hay không.

Bác sĩ sẽ theo dõi và điều trị các loại thuốc kháng tiểu cầu để giảm nguy cơ huyết khối do tiểu cầu bám vào. Thuốc cũng có thể ngăn hình thành cục máu đông bên trong stent. Thuốc được dùng liên tục trong 6 – 12 tháng tùy vào loại stent.

Hầu hết các stent đều được phủ một lớp thuốc để ngăn sự hình thành mô sẹo bên trong stent. Những stent này được gọi là stent phủ thuốc (DES). Chúng giải phóng thuốc bên trong mạch máu, làm chậm sự phát triển quá mức của mô bên trong stent. Điều này giúp ngăn ngừa mạch máu bị hẹp trở lại.

Một số stent không có lớp phủ thuốc này được gọi là stent kim loại trần (BMS). Chúng có thể có tỷ lệ hẹp cao hơn, nhưng bệnh nhân không cần sử dụng thuốc chống kết tập tiểu cầu lâu dài. Đây có thể là loại stent phù hợp ở những người có nguy cơ chảy máu cao.

Nếu mô sẹo hình thành bên trong stent nghĩa là bị tái hẹp lại trong stent, cần một thủ thuật lặp lại. Điều này có thể được sử dụng để nong mạch bằng bóng hoặc với một stent thứ hai.


*

Stent có thể nong rộng tùy theo kích thước mạch máu


Tại sao cần nong động mạch vành?

Nong động mạch vành được thực hiện để khôi phục lưu lượng máu của động mạch vành trong trường hợp động mạch bị hẹp, dẫn đến người bệnh đau ngực, khó thở.

Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh động mạch vành (CAD) đều có thể được điều trị bằng nong mạch. Dựa vào quá trình thăm khám, tình trạng của người bệnh mà bác sĩ sẽ có tư vấn và hướng dẫn điều trị tốt nhất.

Rủi ro trong nong mạch vành

Theo thống kê của các nghiên cứu lớn trên thế giới, những rủi ro có thể xảy ra liên quan đến nong mạch, đặt stent như nguy cơ tai biến cần can thiệp cấp cứu, hoặc tử vong liên quan đến kỹ thuật chụp và can thiệp động mạch vành là khá thấp, chỉ khoảng 1-2%, gồm:

Chảy máu tại vị trí đặt ống thông vào cơ thể (thường là bẹn, cổ tay hoặc cánh tay); Có cục máu đông hoặc có tổn thương ở mạch máu từ ống thông; Cục máu đông trong mạch vành được điều trị; Xảy ra nhiễm trùng ngay tại vị trí đặt ống thông; Loạn nhịp tim; Đau ngực; Đột tử; Đau hoặc khó chịu ở ngực; Vỡ động mạch vành hoặc tắc hoàn toàn động mạch vành, cần phẫu thuật tim hở; Xảy ra phản ứng dị ứng với các loại thuốc cản quang được sử dụng; Tổn thương thận do tác động của thuốc cản quang.

Cần chuẩn bị những gì trước khi nong động mạch vành?

Danh sách những việc mà người bệnh cần chuẩn bị trước khi thực hiện thủ thuật, gồm:

Gặp gỡ bác sĩ để đặt câu hỏi, làm các thủ tục cần thiết trước khi can thiệp thủ thuật, đọc kỹ biểu mẫu và đặt câu hỏi nếu có vấn đề chưa rõ. Thông báo với bác sĩ về việc bạn đã từng bị phản ứng về bất kỳ loại thuốc cản quang nào, hoặc có dị ứng với i-ốt. Không bỏ sót các trường hợp nhạy cảm hoặc bị dị ứng với bất kỳ loại thuốc nào, cao su, băng dính và gây mê cục bộ hoặc toàn thân. Nhịn ăn uống trong thời gian trước thực hiện thủ thuật. Phụ nữ mang thai hoặc đang nghi ngờ mang thai cần chú ý việc tiếp xúc với bức xạ trong thai kỳ có nguy cơ dẫn đến dị tật bẩm sinh, do đó cần thông báo và lắng nghe tư vấn của bác sĩ. Ngưng tất cả các loại thuốc đang dùng, đặc biệt là các thuốc như Metformin. Trường hợp người bệnh có tiền sử rối loạn chảy máu hoặc đang dùng bất kỳ loại thuốc làm loãng máu (như thuốc chống đông máu, hoặc chống kết tập tiểu cầu), aspirin hoặc các loại thuốc ảnh hưởng đến đông máu… cần ngưng ngay trước khi làm thủ thuật. Tuy nhiên, đối với các thủ thuật nong mạch theo kế hoạch, bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh tiếp tục sử dụng aspirin hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu, do đó người bệnh cần thông báo rõ ràng tình trạng để có chỉ định phù hợp nhất. Thực hiện xét nghiệm máu trước khi làm thủ thuật để xác định mất bao lâu để máu đông. Bác sĩ cũng có thể chỉ định người bệnh thực hiện một số thủ thuật khác. Thông báo với bác sĩ nếu người bệnh có sử dụng máy tạo nhịp tim hoặc các thiết bị cấy ghép khác. Người bệnh có thể uống thuốc an thần trước khi làm thủ thuật để giúp thư giãn, tránh được cảm giác căng thẳng. Bên cạnh đó, dựa vào tình trạng bệnh lý và sức khỏe ở mỗi người bệnh mà bác sĩ sẽ có hướng dẫn khác nhau, giúp người bệnh chuẩn bị sẵn sàng và tốt nhất cho các thủ thuật.
*

Dựa vào kết quả quá trình thăm khám và các xét nghiệm cần thiết mà bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị tốt nhất cho bệnh nhân


Người bệnh cần làm gì sau thủ thuật?

Sau thủ thuật, người bệnh cần lưu ý:

Nằm theo dõi tại phòng hồi sức trong vòng 24 – 48 giờ. Băng ép tại vị trí chọc kim: 8 giờ với động mạch quay, 24 giờ với động mạch đùi và nằm thẳng chân ít nhất 12 giờ. Sau 48 giờ người bệnh có thể xuất viện. Duy trì thuốc kháng tiểu cầu kép đúng thời gian thủ thuật cho từng loại stent theo hướng dẫn của bác sĩ. Tái khám định kỳ đều đặn theo chỉ định của bác sĩ. Trường hợp người bệnh gặp các triệu chứng như đau ngực, khó thở đột ngột… cần đến ngay bệnh viện để được can thiệp xử trí ngay lập tức.

Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là một trong những chuyên khoa mũi nhọn được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất khang trang, sở hữu hệ thống máy móc hiện đại, quy tụ đội ngũ bác sĩ là những chuyên gia giỏi chuyên môn giàu kinh nghiệm, từng có thời gian dài tu nghiệp tại nước ngoài và đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng tại các bệnh viện hàng đầu Việt Nam như PGS.TS.BS Phạm Nguyễn Vinh, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bạch Yến, BS Nguyễn Minh Trí Viên (cố vấn phẫu thuật tim), TS.BS Trần Văn Hùng, TS.BS Nguyễn Anh Dũng, BSCKII Huỳnh Ngọc Long, BSCKI Vũ Năng Phúc, TS.BS Nguyễn Thị Duyên, TS.BS Lê Thị Thanh Hằng, BS Nguyễn Đức Hưng, BS Nguyễn Phạm Thùy Linh, BS.CKI Phạm Thục Minh Thủy, ThS.BS Huỳnh Khiêm Huy, BS.CKII Võ Ngọc Cẩm, ThS.BS Nguyễn Khiêm Thao, BS.CKI Hoàng Thị Bình, ThS.BS Nguyễn Quốc Khánh… mang đến dịch vụ thăm khám, chẩn đoán, tư vấn và điều trị hiệu quả và toàn diện các bệnh tim mạch cho mọi đối tượng từ phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người trưởng thành đến người cao tuổi.

Xem thêm: Chỉ Số Reach Là Gì ? Cách Tăng Facebook Organic Reach Hiệu Quả

Đặc biệt, với phòng mổ Hybrid hiện đại, hệ thống robot chụp mạch Artis Pheno cao cấp, quy tụ chuyên gia giàu kinh nghiệm trong phẫu thuật – can thiệp tim mạch…, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh có thể thực hiện các kỹ thuật can thiệp tim mạch từ đơn giản đến phức tạp: chụp, nong và đặt stent động mạch chủ; chụp, nong và đặt stent mạch máu ngoại biên; đặt stent động mạch cảnh, stent động mạch thận; can thiệp động mạch chi; đặt Filter Tĩnh mạch chủ dưới…; can thiệp van tim (nong van, thay van qua da); can thiệp điều trị tim bẩm sinh (bít, thông liên nhĩ, thông liên thất, ống động mạch); cấy máy tạo nhịp điều trị nhịp chậm, suy tim (CRT); kỹ thuật Hybrid (can thiệp và phẫu thuật đồng thời); đặt Stent Graft trong phình tách động mạch chủ… 


Các chuyên gia tim mạch khuyến cáo, tình trạng tắc nghẽn hoàn toàn có thể xảy ra sau can thiệp động mạch vành. Do đó, người bệnh cần được theo dõi đều đặn, tái khám định kỳ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, từ đó có giải pháp can thiệp xử trí kịp thời.